Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính
Thứ 6, 27/4/2018, 0h:36:16
Công tác đào tạo cử truyển đối với HSSV là người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
11/04/2018 11:00 SA
Trong giai đoạn hiện nay, chính sách đào tạo cử tuyển đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập: giữa đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm; quy hoạch và cơ cấu cán bộ theo dân tộc và ngành nghề đào tạo...Cần phải có những định hướng giải pháp mới để hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, gắn đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm tại địa phương.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em phân bố rải rác và chung sống hòa thuận ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, vùng, miền trong cả nước; sự phân bố và đặc điểm văn hóa của các dân tộc đã ảnh hưởng sâu sắc đến công tác tạo nguồn cán bộ cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS, MN) vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (KT - XH ĐBKK), biên giới và hải đảo.

Ngày 14 tháng 11 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân(Nghị định số 134/2006/NĐ-CP), Nghị định ra đời đã giải quyết được căn bản sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng cán bộ, công chức, viên chức ở vùng DTTS, MN.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chính sách đào tạo cử tuyển đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập: giữa đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm; quy hoạch và cơ cấu cán bộ theo dân tộc và ngành nghề đào tạo...Cần phải có những định hướng giải pháp mới để hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, gắn đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm tại địa phương.

Thành tựu của công tác cử tuyển học sinh, sinh viên là người DTTS

Kết quả tuyển sinh, đào tạo và phân công công tác cho sinh viên cử tuyển - Từ năm 1990 đến năm 1996, tuyển được 4.876 học sinh/5485 chỉ tiêu, đạt 88,9% chỉ tiêu kế hoạch; số học sinh cử tuyển đã được vào học tại 25 trường đại học, cao đẳng. Số sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường giai đoạn này đều được bố trí công tác theo quy định. - Từ năm 1996 đến năm 1998, tuyển được 2.312 học sinh/2.961 chỉ tiêu, đạt 78% chỉ tiêu kế hoạch.


Học sinh Trường PTVCVB tham dự Hội thi văn hóa các dân tộc thiểu số

Số học sinh cử tuyển này đã bố trí vào học tại 18 trường đại học, cao đẳng chủ yếu học các ngành Sư phạm, Y khoa, Nông - Lâm nghiệp và các ngành phục vụ xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn, miền núi. Riêng số học sinh ngành Sư phạm sau tốt nghiệp, các trường đã bàn giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý toàn bộ hồ sơ, bằng tốt nghiệp theo quy định, hầu hết số sinh viên này đều bố trí được công tác phù hợp tại địa phương. Một số hạn chế và tồn tại Trong giai đoạn này, các địa phương phần lớn không tuyển hết chỉ tiêu cử tuyển.

Về cơ bản sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường vẫn được các địa phương bố trí và sắp xếp việc làm.

Giai đoạn từ 2006 đến nay (sau khi có Nghị định số 134/2006/NĐ-CP)

Công tác cử tuyển trong giai đoạn 1990 - 2006 đã khẳng định được vai trò to lớn trong công tác đào tạo cán bộ cho vùng DTTS, MN. Tuy nhiên, để cử tuyển tiếp tục phát huy hiệu quả ngày 14 tháng 11 năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Kết quả tuyển sinh, đào tạo và phân công công tác cho sinh viên cử tuyển

Hiện nay, có 48 DTTS có học sinh, sinh viên cử tuyển, một số dân tộc có số học sinh cử tuyển khá đông như: dân tộc Thái chiếm 15,17%, Khmer chiếm 12,46%, Tày chiếm 9,59%, Hmông chiếm 8,04%, Dao chiếm 5,58%. Tuy nhiên vẫn còn một số DTTS rất khó tuyển sinh như dân tộc Co, Mảng, Rơ Măm, Cơlao, Giẻ -Triêng, Cống, Pà Thẻn và dân tộc Lôlô; đặc biệt còn có 5 dân tộc chưa có học sinh cử tuyển là dân tộc Brâu, La Hủ, Lự, Ngái và dân tộc Ơđu; một số dân tộc có tỷ lệ học sinh cử tuyển khá ổn định như: dân tộc Bru-Vân Kiều, Chăm, Kháng, Pà thẻn, Tà ôi, Xinh Mun. Từ năm 2007 đến 2013, tổng số học sinh cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng là 12.805/14.602 chỉ tiêu, đạt 88%.

Số học sinh cử tuyển vào các trường trung cấp chuyên nghiệp là trên 2.000 học sinh. Trong giai đoạn này, có 55/63 tỉnh thành có học sinh tham gia học cử tuyển. Từ năm 2010 đến 2015, nhu cầu đào tạo học sinh cử tuyển của các địa phương giảm mạnh, hiệu quả của công tác tuyển sinh giai đoạn này chỉ đạt 88%. Năm 2015, chỉ còn 24/52 tỉnh, thành phố có nhu cầu tuyển sinh cử tuyển. Một số hạn chế, tồn tại của công tác cử tuyển trong giai đoạn hiện nay:

a) Bố trí việc làm cho sinh viên tốt nghiệp cử tuyển rất khó khăn Sinh viên cử tuyển tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ra trường nhiều nhưng cơ quan chịu trách nhiệm cử người đi học phân công bố trí việc làm cho các sinh viên này với số lượng rất ít. Tồn tại này diễn ra từ nhiều năm nay khiến cho số lượng sinh viên tốt nghiệp cử tuyển ngày càng dư thừa và gây tồn đọng rất lớn.

b) Chất lượng đào tạo sinh viên cử tuyển chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Sinh viên cử tuyển tốt nghiệp khó bố trí được việc làm ngày càng nhiều, chỉ có một số ít sinh viên có khả năng tự tìm kiếm việc làm, khởi nghiệp tại địa phương nơi mình sinh sống.

Định hướng giải pháp để thực hiện hiệu quả chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người DTTS trong những năm tiếp theo

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền Đối với vùng đồng bào DTTS, MN, thông tin tuyên truyền là giải pháp quan trọng quyết định sự thành công của công tác dân tộc nói chung và công tác cử tuyển nói riêng. Tiếp tục duy trì thực hiện Nghị định số 134/2006/NĐ-CP Tiếp tục tổ chức thực hiện chính sách cử tuyển theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và Nghị định số 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP.

Điều chỉnh quy định cử tuyển theo hướng: Giảm số lượng học sinh, sinh viên cử tuyển ở trình độ đại học, cao đẳng tăng dần đào tạo hệ trung cấp và dạy nghề; giảm các ngành Y-Dược, Sư phạm tăng hợp lý các ngành kỹ thuật, kỹ sư thực hành phù hợp với nhu cầu của vùng DTTS, MN; nâng cao chất lượng đầu vào và đầu ra đào tạo cử tuyển. Quy trình xây dựng chỉ tiêu cử tuyển chặt chẽ, chỉ cử đi học những chuyên ngành tại địa phương còn thiếu, có cơ chế cam kết bố trí việc làm đối với người được cử đi học sau khi tốt nghiệp.

Đào tạo cử tuyển phải gắn liền với quy hoạch nguồn nhân lực, nguồn cán bộ của địa phương, của vùng Đây là một giải pháp có tính tiên quyết để thành công trong tạo nguồn cán bộ cho các DTTS và vùng DTTS, MN. Việc quy hoạch, phải được tiến hành nghiêm túc, thận trọng, khách quan và hạn chế tiêu cực. Từ quy hoạch phát triển vùng, sau đó dự báo nguồn nhân lực (nguồn cán bộ) để đáp ứng nhu cầu của quy hoạch.

Cần thiết phải quy hoạch rõ số cán bộ chuyên môn kỹ thuật, số cán bộ quản lý, số bác sỹ, giáo viên, số lượng cán bộ theo dân từng dân tộc của vùng (để đảm bảo tính phát triển cân đối giữa các dân tộc của vùng). Thực hiện Nghị quyết số 33/2016/QH14 của Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành nghiên cứu để đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành liên quan sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy quy phạm pháp luật liên quan nhằm thực hiện hiệu quả công tác cử tuyển đối với học sinh, sinh viên là người DTTS; gắn đào tạo với nhu cầu và bố trí việc làm tại địa phương./.​

Nguyễn Văn Hùng, Vụ Giáo dục dân tộc
Tags:  
 
Ý kiến của bạn
Họ tên : Email :  
  Tiêu đề :
 
  Nội dung :